Chiến tranh nhìn từ nhiều phía (sưu tầm): Hai ông tướng

Bùi Văn Phú
Hai ông tướng
Ngày còn ở tiểu học, một buổi chiều có xe nhà binh đến chở cả trăm học trò nhỏ chúng tôi đi. Thày có nói đi đến một nơi nào đó mà tôi không rõ tên. Ðến một vùng đất mới được ủi phẳng, có khán đài, cờ quạt ngợp trời, xa xa mấy dãy nhà lợp tôn còn mới, phản chiếu mặt trời chói sáng. Chúng tôi xuống xe, được phát cờ vàng, xếp hàng ngay ngắn cùng với cả nghìn học trò, chờ đợi dưới cơn nắng chiều gay gắt.

Chập sau có máy bay trực thăng đáp. Một ông cầm ba-toong bước xuống, có bộ râu mép, đeo kính đen, súng lục kè hông, chắc ông là tướng vì trước mũ có hai ngôi sao bạc. Ông mặc bộ đồ phi công, khăn tím cuốn cổ.

Kèn đồng vang lên nhạc điệu quân hành. Loa phóng thanh phát giọng: “Hoan hô thiếu tướng Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương”. Bọn học trò chúng tôi mở miệng la to: “Hoan hô, hoan hô”, tay phất cờ cao, phe phẩy trong gió. Chúng tôi hoan hô, phất cờ từng chập, theo khẩu hiệu phát ra từ loa, đúng như lời thày dặn.

Hết những bài diễn văn, ông ra về.

Nhìn chiếc trực thăng cuốn gió rồi tự nhấc bổng lên, tôi mơ ước một ngày được làm phi công như ông, bay bổng lên cao nhìn xuống đất nước, xem xã Tân Phú mới được thành lập này ra làm sao.

*

Mười năm sau, giữa lúc Sài Gòn lên cơn hấp hối ông đến với cư dân trong khu xóm nơi tôi sống. Trong đám đông đủ loại người, đàn ông, đàn bà, trẻ con và có tôi đứng nghe. Ông không còn mặc đồ bay, không mũ, không sao, nhưng vẫn bộ râu mép đen dầy. Trông ông gầy đi và đen hơn mười năm trước, nếu trí nhớ xa xưa của tôi không sai lắm khi viết bài luận văn tả một người mà em ngưỡng phục. Hôm nay ông mặc bộ đồ bốn túi, loại đồng phục “công chức” mà những năm gần đây, qua ti-vi, tôi hay thấy viên chức chính phủ mặc khi đi làm công tác thăm viếng trường học, trại gia binh, cơ sở sản xuất, hay ủy lạo thương binh.

Không kèn không trống. Giọng miền Bắc của ông từ tốn, sang sảng trên loa phóng thanh: “Bên Mỹ không có cà pháo, mắm tôm, không nước chè, nước vối. Ăn bơ uống sữa đi ỉa té re. Thế thì đồng bào đừng có di tản qua Mỹ làm gì… Nếu Sài Gòn biến thành một Stalingrad, tôi sẽ cùng chiến hữu ở lại với đồng bào chiến đấu tới cùng.”

Chỗ ông đứng nói là Sơn Tây, sau lưng ông là một ruộng rau muống xanh ngắt, nơi mà ngày còn bé bọn trẻ con chúng tôi hay lội sình bắt cá trê, cá sặc. Khi hên bắt được con cá lóc to, đem về cho mẹ nấu cháo. Thêm hành, thì là, gừng vào nữa, ăn ngon hết xẩy. Còn không may, vừa bước xuống ruộng bị ngạnh cá trê đâm vào lòng bàn tay chảy máu, đâm vào chân đau điếng.

Dân trong vùng toàn người Bắc 54, nhớ thôn làng xưa, nhớ món ăn thân quen nên họ trồng cả một cánh đồng và gọi vùng đất sình lầy là “ruộng rau muống Sơn Tây”, quê cũ nơi đất Bắc của ông.

*

Ít lâu sau ông và tôi cùng được đưa vào một trại tị nạn ở Hoa Kỳ. Ngày ngày ông nằm trên ghế bố nhà binh, đôi tay làm gối kê đầu, nhìn trần lều mà suy ngẫm sự đời, bên ngoài có lính MP Mỹ canh gác. Phần tôi ban ngày lang thang trong trại, đi học vài câu Anh ngữ, lo lắng tương lai không biết ra sao? Ðêm về cũng nằm ghế bố, giữa vùng đồi núi California gió lạnh, tôi ôm can nước nóng tìm chút ấm trong lòng, cho đỡ nhớ nhà.

Ra trại, ông mở quán rượu, mua thuyền đánh cá, tính chuyện kháng chiến, phục quốc. Tôi trở lại trường dùi mài kinh sử, hoạt động sinh viên, rồi phiêu bạt chân trời góc biển.

*

Một mùa hè của thập niên 90, hai thế hệ Việt Nam hải ngoại lên truyền hình tranh luận chuyện nước non. Một già ở lứa tuổi 60, một trẻ trong tuổi 30. Vẫn bộ râu mép đen dầy, lần đầu tiên tôi thấy ông mặc com-plê, cà-vạt. Tôi cũng trịnh trọng áo quần. Ông phán: Mỹ bang giao với Việt Nam càng sớm thì cộng sản càng mau sụp đổ. Tôi nói chế độ cộng sản giờ tham nhũng, hối lộ hơn cả thời ông lãnh đạo, mà sao ông ủng hộ? Ông lại khoe thời cầm quyền ông đã ra lệnh xử bắn Tạ Vinh, một gian thương trục lợi. Tôi từng thích tính thẳng ruột ngựa của ông những ngày còn ở quê nhà. Cố vấn Mỹ ông cũng coi như nơ-pa. Bây giờ ông muốn chỉ cho nhà nước cách diệt tham nhũng, xây dựng quốc gia. Tôi trân trọng điều ông muốn làm, nhưng có còn ai tin ông nữa đâu! Tôi dẫn chứng lời ông kêu gọi ở lại chiến đấu lúc Sài Gòn hấp hối. Nghe điều đó, ông bực tức lên: “Bộ anh muốn tôi chết à!”

Nghe ông nói thế, tuy ngồi trước mặt nhưng ấn tượng về ông ở xã Tân Phú năm nào giờ đây hoàn toàn sụp đổ trong tôi.

*

Gần đây ông về thăm quê hương Sơn Tây miền Bắc. Tôi mừng cho ông đã trở về cố hương. Từ cố quốc ông lại phát biểu linh tinh làm tôi nhớ đến ruộng rau muống Sơn Tây miền Nam, nhớ đã một lần mặt đối mặt với ông trên truyền hình ở San Jose.

Tôi buồn vì trên phần đất mình được sinh ra đã có một ông tướng bại trận kiểu như ông.

*

Tỉnh Thái Bình miền Bắc có một ông tướng từng đi B lúc đất nước chiến tranh. Thời đất nước thống nhất, hòa bình ông lãnh đạo quốc hội, tuyên huấn trung ương, văn hoá tư tưởng. Những năm cuối thế kỷ qua, trước cảnh cán bộ tha hóa, đạo đức xuống cấp, xã hội lầm than, nhìn vào sự thực ông can đảm lên tiếng, viết “Nhật kí rồng rắn” làm phương án dân chủ hoá cho Việt Nam bước vào đường văn minh, tiến bộ.

Ba năm trước ông giã từ cõi trần. Ðám tang ông không kèn không trống, nhưng là tụ điểm của những người yêu dân chủ, tự do.

Tôi mừng vì đất nước đã có một ông tướng dũng cảm như ông.

© 2005 talawas

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: